Trang chủ › Đi làm việc ở nước ngoài
Trong sáu tháng đầu năm 2026, 66.311 người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 85,5% trong số đó tới hai nơi. Bài này đặt cạnh nhau thứ người ta tìm kiếm và thứ thật sự mở, kể cả những thị trường mà câu trả lời trung thực là “bạn không có cửa”.
⚡ Tóm tắt 60 giây
- Thị trường thật rất tập trung. Sáu tháng đầu 2026: Nhật Bản 28.488 · Đài Loan 28.205 · Hàn Quốc 3.373 · Trung Quốc 1.946 · Singapore 968 · Hy Lạp 537. Hai nước đầu chiếm 85,5%.
- Thứ tự người ta tìm không phải thứ tự cửa mở. Hàn Quốc là thị trường được tìm nhiều thứ hai nhưng chỉ nhận 5,1% số người thực đi, vì cửa duy nhất là chương trình EPS và chương trình đó tuyển theo đợt, theo ngành, có đợt còn xét cả nơi thường trú.
- Có thị trường không có cửa cho lao động phổ thông. Việt Nam không nằm trong danh sách nguồn Work Permit của Bộ Nhân lực Singapore ở bất kỳ ngành nào. Người Việt sang Singapore làm việc hợp pháp bằng S Pass hoặc Employment Pass — hai loại đòi bằng cấp.
- “Xuất khẩu lao động” không phải tên trong luật. Cụm này xuất hiện 0 lần trong toàn văn Luật số 69/2020/QH14; cụm được dùng là “đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”. Không ai được cấp “giấy phép xuất khẩu lao động” cả.
- Luật mở ba nhóm cửa, không phải một. Ngoài doanh nghiệp dịch vụ còn có: đơn vị sự nghiệp nhà nước thực hiện thỏa thuận giữa hai chính phủ, doanh nghiệp trúng thầu ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa đi nâng cao tay nghề, tổ chức đầu tư ra nước ngoài, và hợp đồng lao động do chính bạn trực tiếp giao kết.
- Cửa rẻ nhất là cửa ít người biết nhất. Đơn vị sự nghiệp được giao nhiệm vụ hoạt động phi lợi nhuận và không được thu tiền dịch vụ của người lao động — đó là quy định trong luật, không phải khuyến mãi.
- Có những công việc và những nơi luật cấm đưa đi, kể cả khi bạn đồng ý: mát-xa tại nhà hàng và trung tâm giải trí, công việc dưới lòng đất thiếu không khí, khu vực đang có chiến sự hoặc nguy cơ chiến sự.
- Nếu bạn dưới 25 tuổi và còn học được, hãy đọc phần cuối trước khi quyết: cùng số tiền đó, đường du học cho tư cách lưu trú rộng hơn và không bị mốc trần thời gian của diện lao động phổ thông.

Bản đồ thật: người Việt đang đi đâu, và bao nhiêu người
| Thị trường | Số người | Tỷ trọng | Cửa vào chính |
|---|---|---|---|
| Nhật Bản | 28.488 | 43,0% | Doanh nghiệp dịch vụ, và các chương trình phi lợi nhuận của nhà nước |
| Đài Loan | 28.205 | 42,5% | Doanh nghiệp dịch vụ, và chương trình tuyển trực tiếp của nhà nước |
| Hàn Quốc | 3.373 | 5,1% | Chỉ chương trình EPS, qua một đơn vị nhà nước duy nhất |
| Trung Quốc | 1.946 | 2,9% | Doanh nghiệp dịch vụ |
| Singapore | 968 | 1,5% | ⚠️ Không qua Work Permit lao động phổ thông — xem mục riêng bên dưới |
| Hy Lạp | 537 | 0,8% | Thị trường mới, quy mô còn nhỏ |
| Tổng 6 tháng | 66.311 người · 59,2% kế hoạch năm · giảm 8.380 người so cùng kỳ | ||
Con số cần đọc kèm bối cảnh: năm 2025 cả nước đưa 144.345 người đi, vượt 11% kế hoạch, trong đó Nhật Bản hơn 64.600, Đài Loan hơn 57.000 và Hàn Quốc trên 11.600. Năm 2024 là 158.000 người. Kế hoạch năm 2026 là 112.000, phấn đấu 150.000. Nói cách khác, sáu tháng đầu 2026 chậm hơn hai năm trước, và phần hụt nằm rõ nhất ở Hàn Quốc.
Chỗ lệch lớn nhất: Hàn Quốc
Từ đó suy ra hai điều mà phần lớn nội dung đang xếp hạng không nói. Thứ nhất, mọi lời chào “lo suất EPS”, “bao đỗ tiếng Hàn”, “có đơn hàng Hàn Quốc” đều đang chào một dịch vụ mà pháp luật không cho phép tồn tại. Thứ hai, số lượng người đi phụ thuộc vào kế hoạch tuyển của phía Hàn theo từng đợt, từng ngành — không phải vào việc bạn tìm được công ty nào.
Trường hợp không có cửa: Singapore
| Ngành | Được tuyển từ | Việt Nam |
|---|---|---|
| Xây dựng · Đóng tàu · Chế biến | Malaysia · Trung Quốc · nhóm nguồn phi truyền thống (Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, Bangladesh, Myanmar, Philippines, Bhutan, Campuchia, Lào) · nhóm Bắc Á (Hong Kong, Macau, Hàn Quốc, Đài Loan) | Không có |
| Chế tạo · Dịch vụ | Malaysia · Trung Quốc · nhóm Bắc Á; nhóm nguồn phi truyền thống chỉ mở cho một tập nghề hạn chế | Không có |

Sáu cửa mà luật mở, và cửa nào rẻ nhất
| Hình thức | Ai đứng ra đưa đi | Đặc điểm tiền |
|---|---|---|
| Hợp đồng với đơn vị sự nghiệp để thực hiện thỏa thuận quốc tế | Đơn vị sự nghiệp được Bộ trưởng giao nhiệm vụ | Phi lợi nhuận, không được thu tiền dịch vụ của người lao động (Điều 42 khoản 3) |
| Hợp đồng với doanh nghiệp dịch vụ | Doanh nghiệp có giấy phép | Được thu tiền dịch vụ, trong trần của Điều 23 |
| Hợp đồng với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu công trình ở nước ngoài | Nhà thầu Việt Nam | Đưa chính người lao động của mình sang làm dự án |
| Hợp đồng với doanh nghiệp đưa đi đào tạo, nâng cao tay nghề | Doanh nghiệp Việt Nam | Gắn với hợp đồng nhận lao động thực tập |
| Hợp đồng với tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài | Nhà đầu tư Việt Nam | Đưa lao động sang cơ sở của chính mình |
| Hợp đồng lao động trực tiếp giao kết | Chính bạn ký với chủ sử dụng nước ngoài | Không qua trung gian; phải đăng ký hợp đồng theo Điều 53 |
Ba khoản tiền hoàn toàn khác nhau mà ai cũng gọi chung là “phí”
| Khoản | Ai trả cho ai | Giới hạn |
|---|---|---|
| Tiền dịch vụ (Điều 23) | Người lao động trả doanh nghiệp dịch vụ | ≤ 1 tháng lương hợp đồng cho mỗi 12 tháng làm việc; hợp đồng từ 36 tháng trở lên thì ≤ 3 tháng lương. Chỉ được thu sau khi hợp đồng cung ứng được chấp thuận và hợp đồng đưa đi đã ký |
| Tiền môi giới (Điều 7 khoản 8, Điều 22) | Doanh nghiệp trả bên trung gian | Nghiêm cấm thu của người lao động |
| Tiền ký quỹ (Điều 25) | Người lao động gửi vào tài khoản của chính mình | Tài khoản phong tỏa đứng tên người lao động; thanh lý hợp đồng nhận lại cả gốc và lãi. Đừng cộng khoản này vào “tổng chi phí” |
Vì trần tiền dịch vụ tính theo tháng lương ghi trong hợp đồng, nên câu “đi nước này hết bao nhiêu” là câu chưa đủ dữ kiện: trần của mỗi người là một con số khác nhau. Điều 23 còn có một khoản ít được nhắc: nếu bên nước ngoài đã trả tiền dịch vụ rồi thì doanh nghiệp chỉ được thu phần còn thiếu. Và nếu bạn phải về nước sớm không do lỗi của mình, doanh nghiệp phải hoàn lại tiền dịch vụ kèm lãi theo tỷ lệ thời gian còn lại.
Những việc và những nơi luật cấm đưa đi, kể cả khi bạn đồng ý
| Nhóm | Nội dung |
|---|---|
| Công việc bị cấm | Mát-xa tại nhà hàng, khách sạn hoặc trung tâm giải trí · tiếp xúc thường xuyên với chất nổ, chất độc hại trong luyện quặng kim loại màu, măng-gan, đi-ô-xít thủy ngân · nguồn phóng xạ hở và khai thác quặng phóng xạ · sản xuất, bao gói phải tiếp xúc thường xuyên với một số hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật độc tính mạnh · săn bắt thú dữ, cá sấu, cá mập · làm việc thường xuyên ở nơi thiếu không khí, áp suất lớn dưới lòng đất hoặc lòng đại dương · liệm, mai táng tử thi, thiêu xác chết, bốc mồ mả |
| Khu vực bị cấm | Khu vực đang có chiến sự hoặc đang có nguy cơ xảy ra chiến sự · khu vực đang bị nhiễm xạ · khu vực bị nhiễm độc · khu vực đang có dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm |
Khoản 13 đáng chú ý ở chỗ nó cấm cả khu vực có nguy cơ xảy ra chiến sự, chứ không đợi tới khi có chiến sự. Nếu ai đó chào bạn một công việc ở vùng đang bất ổn với lý do “lương cao gấp đôi”, thì mức lương đó không phải phần thưởng cho lòng dũng cảm — nó là dấu hiệu bạn đang được mời vào một việc mà pháp luật Việt Nam cấm đưa người sang.
Chọn thị trường: bốn câu hỏi theo đúng thứ tự
| Thứ tự | Câu hỏi | Vì sao đặt ở vị trí này |
|---|---|---|
| 1 | Nước này có kênh chính thức cho lao động phổ thông Việt Nam không? | Nếu không, mọi so sánh lương phía sau đều vô nghĩa. Singapore là ví dụ |
| 2 | Kênh đó đi qua ai — đơn vị nhà nước hay doanh nghiệp dịch vụ? | Quyết định mức tiền bạn phải nộp, và quyết định luôn việc có ai được thu tiền của bạn hay không |
| 3 | Hồ sơ của tôi có đúng nhóm được tuyển đợt này không? | Ngành, tuổi, sức khỏe, và với vài chương trình là cả nơi thường trú |
| 4 | Sau khi trừ hết các khoản, mỗi tháng còn bao nhiêu? | Lương ghi trên đơn hàng là con số trước khấu trừ. Chênh lệch giữa hai con số lớn nhất ở Đài Loan |

Khi nào du học là câu trả lời đúng hơn
Cách kiểm tra thẳng thắn nhất là hỏi ngược: sau khi hết hợp đồng, tôi còn giữ lại được gì ngoài tiền? Với diện lao động phổ thông, câu trả lời thường là kinh nghiệm và một ít ngoại ngữ — nhưng thời gian đó không được tính vào bất kỳ lộ trình cư trú nào. Với đường học tập, thời gian đó tạo ra bằng cấp, và bằng cấp là thứ mở được các diện visa mà lao động phổ thông không chạm tới.
Câu hỏi thường gặp
Xuất khẩu lao động là gì theo đúng tên trong luật?
Tên trong luật là “người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”. Cụm “xuất khẩu lao động” không xuất hiện lần nào trong toàn văn Luật số 69/2020/QH14. Luật tiền nhiệm số 72/2006/QH11, hiệu lực từ 01/7/2007, cũng đã mang tên gọi này.
Năm 2026 người Việt đi làm việc ở nước ngoài nhiều nhất là nước nào?
Sáu tháng đầu năm 2026: Nhật Bản 28.488 người, Đài Loan 28.205, Hàn Quốc 3.373, Trung Quốc 1.946, Singapore 968, Hy Lạp 537. Tổng 66.311 người, đạt 59,2% kế hoạch năm và giảm 11,22% so với cùng kỳ.
Vì sao Hàn Quốc được tìm nhiều mà số người đi lại ít?
Vì Hàn Quốc chỉ có một cửa là chương trình EPS, tuyển theo đợt và theo ngành do phía Hàn quyết định, và chỉ Trung tâm Lao động ngoài nước được phái cử. Sáu tháng đầu 2026 chỉ có 3.373 người đi, chiếm 5,1% tổng số.
Người Việt có đi Singapore làm lao động phổ thông được không?
Không qua cửa Work Permit. Bộ Nhân lực Singapore công bố danh sách nguồn được tuyển Work Permit cho từng ngành và Việt Nam không có tên trong bất kỳ danh sách nào. Người Việt sang Singapore làm việc hợp pháp bằng S Pass hoặc Employment Pass, hai loại đòi bằng cấp và mức lương sàn.
Có cách nào đi làm việc ở nước ngoài mà không mất tiền dịch vụ không?
Có, qua nhóm hình thức thứ nhất của Điều 5: hợp đồng ký với đơn vị sự nghiệp được giao nhiệm vụ để thực hiện thỏa thuận quốc tế. Điều 42 khoản 3 quy định đơn vị này hoạt động phi lợi nhuận và không được thu tiền dịch vụ của người lao động. Chỉ tiêu của các chương trình đó ít hơn nhiều so với kênh doanh nghiệp.
Tiền dịch vụ tối đa là bao nhiêu?
Theo Điều 23, không quá 1 tháng tiền lương theo hợp đồng cho mỗi 12 tháng làm việc; với sĩ quan và thuyền viên tàu vận tải biển là 1,5 tháng. Hợp đồng từ 36 tháng trở lên thì tổng tiền dịch vụ không quá 3 tháng lương. Vì tính theo lương hợp đồng nên trần của mỗi người là một con số khác nhau.
Tiền ký quỹ có phải là chi phí không?
Không. Theo Điều 25, tiền ký quỹ nằm trong tài khoản phong tỏa đứng tên chính người lao động, và khi thanh lý hợp đồng thì nhận lại cả gốc lẫn lãi. Không nên cộng khoản này vào tổng chi phí khi so sánh giữa các đơn hàng.
Công ty thu tiền môi giới của tôi có đúng không?
Không. Khoản 8 Điều 7 Luật 69/2020 nghiêm cấm thu tiền môi giới của người lao động. Tiền môi giới là khoản doanh nghiệp trả cho bên trung gian ở nước ngoài, không phải khoản người lao động gánh.
Có công việc nào bị cấm đưa người đi làm không?
Có. Khoản 12 Điều 7 liệt kê cụ thể, gồm mát-xa tại nhà hàng, khách sạn hoặc trung tâm giải trí; các công việc tiếp xúc thường xuyên với chất nổ và hóa chất độc tính mạnh; nguồn phóng xạ hở; săn bắt thú dữ, cá sấu, cá mập; làm việc ở nơi thiếu không khí, áp suất lớn dưới lòng đất hoặc lòng đại dương; liệm, mai táng, thiêu xác, bốc mồ mả.
Đi làm ở vùng đang có xung đột thì sao?
Khoản 13 Điều 7 cấm đưa người lao động đi khu vực đang có chiến sự hoặc đang có nguy cơ xảy ra chiến sự, khu vực nhiễm xạ, nhiễm độc, hoặc đang có dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm. Lưu ý là luật cấm cả khu vực mới ở mức có nguy cơ.
Tôi nên hỏi gì đầu tiên khi chọn thị trường?
Hỏi “với hồ sơ của tôi, nước này còn cửa chính thức không”, trước khi hỏi lương. Sau đó mới lần lượt: cửa đó đi qua ai, tôi có thuộc nhóm được tuyển đợt này không, và sau khấu trừ mỗi tháng còn bao nhiêu.
Khi nào nên chọn du học thay vì đi lao động?
Khi bạn còn dưới khoảng 25 tuổi, còn học được, và mục tiêu không dừng ở việc tích lũy trong vài năm. Diện lao động phổ thông ở hầu hết thị trường có trần thời gian và không dẫn tới tư cách lưu trú dài hạn, trong khi bằng cấp mở được các diện visa khác.
Ban Tư vấn Du học – Gate Future · Cập nhật tháng 08/2026. Bài viết ở vai bên thứ ba cung cấp thông tin: Gate Future không có giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, không nhận hồ sơ và không tuyển chọn cho đơn hàng nào.
